Tam Tự Kinh

Giới thiệu

Cuốn sách 'Huấn Mông Văn' (zhengjian.org)

Cuốn sách 'Huấn Mông Văn' (zhengjian.org)

Cuốn sách “Huấn Mông Văn” (Tam Tự Kinh) được sử dụng trước tiên cho việc giáo dục tại gia suốt triều Tống. Không ai biết được chính xác ai là người đầu tiên viết ra những đoạn thơ ba chữ này. Một vài người cho rằng đó là Vương Ứng Lân triều Tống. Người khác lại cho rằng tác giả là Khu Quát Tử, sống vào cuối những năm triều Tống.

Kinh” trong tiếng Trung có nghĩa là “đạo lý bất biến”. Cổ nhân gọi thư sách là kinh nếu thư sách đó thể hiện một giá trị to lớn. Trong những kinh thư thời Trung Quốc cổ đại, Tam Tự Kinh đơn giản và dễ đọc nhất. Phạm vi của nó bao gồm cả văn học, lịch sử, triết học, thiên văn, địa lý, luân thường đạo lý và những nhân tố đạo đức. Hơn nữa, nội dung lại phong phú, thú vị và truyền cảm. Những đoạn thơ ngắn và đơn giản, tất cả đều là ba chữ, vì thế mà rất thích hợp để truyền khẩu. Khi học trò đọc Tam Tự Kinh, họ sẽ học được các lễ nghi trong xã hội, tiếng Trung, văn học, và các sự kiện lịch sử. Vì những phẩm chất này mà Tam Tự Kinh luôn là văn thư đầu tiên được chọn khi bắt đầu giáo dục nghi thức cho trẻ.

Tam Tự Kinh được chia thành 44 mục, mỗi mục với 4 đoạn (8 câu). Mỗi mục chứa các phần văn bản, từ vựng và phần giải nghĩa văn bản, câu hỏi thảo luận, chuyện kể và những bài viết phản ánh. Với những người nói tiếng Anh, mỗi một ký tự hay thuật ngữ trong phần văn bản đi cùng với những ngữ âm Trung Hoa giúp họ đánh vần và cũng được chú thích trong phần từ vựng. Các đoạn được giải thích bằng tiếng Anh để người đọc có thể hiểu nghĩa. Sau đó, các câu hỏi thảo luận được dùng để hướng dẫn người học nghĩ sâu thêm về văn bản và củng cố sự hiểu biết của mình về đề tài của mục. Ngoài những đoạn văn, một hay hai câu chuyện liên quan được trình bày, giới thiệu nền tảng của những sự kiện và nhân vật lịch sử, khuyến khích những suy nghĩ phê bình, và giúp cho việc giáo dục đạo đức trở nên dễ dàng hơn. Những đoạn viết phản ánh cung cấp một vài câu hỏi hướng dẫn để học trò thể hiện tư tưởng và quan điểm của họ khi viết.

Tam Tự Kinh dễ nhớ, và vì nội dung giáo dục bao hàm nhiều lĩnh vực, đã được sử dụng rộng rãi từ triều Tống. Nó không chỉ rèn luyện sự hiểu biết về văn hóa Trung Quốc truyền thống, mà còn đảm bảo cho học trò những mô hình để đi theo và ứng xử những tình huống họ có thể gặp trong cuộc sống sau này. Chúng tôi hy vọng rằng người đọc có thể học thuộc lòng đoạn văn bản và trân quý di dản văn hóa quý giá này.

Mục 1
Văn bản
人(rén) 之(zhī) 初 (chū),性(xìng) 本(běn) 善(shàn),
性(xìng) 相(xiāng) 近(jìn),習(xí) 相(xiāng) 遠(yuǎn)。
苟(gǒu) 不(bú) 教(jiào),性(xìng) 乃(nǎi) 遷(qiān),
教(jiào) 之(zhī) 道(dào),貴(guì) 以(yǐ) 專(zhuān)。

Nhân chi sơ, tính bản thiện,
Tính tương cận, tập tương viễn.
Cẩu bất giáo, tính nãi thiên,
Giáo chi đạo, quí dĩ chuyên.

(Tạm dịch:
Con người mới sinh ra, bản tính vốn hiền lành,
Tính ban sơ giống nhau, thói quen dần khác xa.
Nếu chẳng được giáo dục, bản tính sẽ đổi dời,
Đường lối để giáo dục, quý ở sự chuyên cần. )

Từ vựng
(1) Chi (之):từ dùng để chỉ một quan hệ sở hữu hoặc cái toàn bộ bao hàm một phần (chỉ đến từ đằng trước)
(2) sơ (初):lúc đầu, sơ khai
(3) tính (性):bản tính, đặc tính
(4) bản (本):bản, nguyên lai
(5) thiện (善):tốt, lành
(6) tương (相):nhau, so với
(7) cận (近):gần
(8) tập (習):học, tiếp xúc với môi trường
(9) viễn ( 遠):xa, khác
(10) cẩu (苟):nếu
(11) giáo (教):dạy, hướng dẫn
(12) nãi (乃):có thể
(13) thiên (遷):thay đổi
(14) đạo (道):con đường, phương pháp, đạo
(15) quí (貴):quan trọng nhất
(16) chuyên (專):tập trung, chuyên cần

Giải nghĩa văn bản

Bản tính tiên thiên của con người là thiện. Bản tính thiện này mang con người đến gần với nhau khi họ còn trẻ. Nhưng khi lớn lên, học từ xã hội và tiếp xúc với môi trường xung quanh, họ lớn lên, tách riêng ra và trở nên khác nhau. Nếu họ không nhận được sự hướng dẫn đúng đắn, họ có thể bị lệch khỏi bản tính thiện nguyên thủy. Để học và dạy, chuyên cần là quan trọng nhất, nếu không nỗ lực của người đó sẽ không mang lại kết quả.

Các câu hỏi thảo luận

1. Thuật ngữ ‘chi sơ’ ý nói lên điều gì? Có phải bản tính con người sở hữu vào lúc sinh ra? Hay nó là bản tính của sinh mệnh?
2. Học là gì? Khi nào chúng ta học? Học như thế nào? Từ điều gì và từ ai chúng ta học? Chúng ta chỉ học trong sách vở?
3. Những gì chúng ta học sau khi sinh ra luôn làm cho chúng ta tốt hơn? Học từ những người xung quanh chúng ta có làm chúng ta xấu đi?
4. Làm sao chúng ta duy trì được bản tính thiện nguyên thủy?
5. Chuyên cần nghĩa là sao? Vì sao nó quan trọng? Sự thiếu chuyên cần làm cho chúng ta bị lệch khỏi bản tính thiện nguyên thủy như thế nào?

Câu chuyện

Chu Xứ trừ tam quái

Ngày xưa, vào triều Tấn ở Trung Quốc, ở một làng nhỏ của Nghĩa Hưng, có một người thanh niên tên là Chu Xứ. Cha mẹ đều qua đời sớm khi cậu còn nhỏ. Cậu lớn lên khỏe mạnh và dũng cảm, nhưng vì cậu ta không được giáo dục và chăm sóc tốt, cậu ta thường đánh nhau với người khác và gây nhiều phiền phức trong làng. Ngày thành tuần, tuần thành tháng, tháng thành năm, những rắc rối mà Chu Xứ ngày càng trở nên càng tồi tệ. Giống như một con quái vật, cậu ta bị tất cả những người trong làng xa lánh.

Một ngày kia, khi anh ta đi xuống phố, anh thấy một đám đông đang nói chuyện một cách nghiêm trọng về việc gì đó. Tò mò, anh ta ghé lại gần. Nhưng đám đông tản đi khi thấy anh ta đến gần. Cảm thấy một chút bực mình, anh ta tóm lấy một người già và hỏi, ”Mọi người đang nói về điều gì vậy?” Ông già trả lời trong sự sợ hãi, “Làng ta đang bị ba con quái vật đe dọa. Một là con hổ ở Nam Sơn. Một con khác là giao long ở Trường Kiều Hà. Chúng đã giết rất nhiều người”. Không đợi ông già nói xong, Chu Xứ hét lên, “Là hổ hay giao long, chúng ta không có gì phải sợ. Tôi sẽ giết những con quái vật này trong tức khắc.” Ngay sau khi lập lời thề, anh bắt đầu thực hiện phận sự.

Khi anh ta đến Nam Sơn, Chu Xứ tìm hổ khắp nơi trên núi. Sau một hồi lâu tìm kiếm, cuối cùng anh ta đã tìm được dấu vết của con dã thú. Nhưng sự vui mừng kéo dài không lâu, con hổ đã ẩn trong bóng cây và nhảy qua đầu anh ta với những chiếc răng bén như dao cạo. Nhưng trước khi con hổ kịp có cơ hội đáp xuống đất, trong nháy mắt, Chu Xứ đã quay lại, nhảy lên trên lưng hổ. Với tất cả sức mạnh của mình, Chu Xứ đã nhanh chóng tóm được đầu con hổ và đập vào tảng đá sắt bén, cho đến khi nó chết. Trước khi Chu Xứ kịp lấy lại hơi, anh bắt đầu đi đến Trường Kiều Hà. May mắn thay, anh không phải mất thời gian lâu để tìm con giao long độc ác. Anh thấy giao long đang sưởi nắng trên hòn đảo giữa sông. Chu Xứ lặng lẽ bơi ra đảo, bò đến sau con thú, và chụp lấy cổ nó mà làm cho nghẹt thở. Nhưng giao long thì khỏe hơn cọp, nó hất Chu Xứ vào cái cây. Chu Xứ không để yên và rít lên, “Ta sẽ không để yên cho ngươi cho đến khi ngươi ngừng thở!”. Không kể là nó đã chiến đấu thế nào, con giao long không thể thoát khỏi sự kiềm chặt của Chu Xứ. Sau ba ngày ba đêm, cuối cùng con thú đã chết. Kiệt sức, Chu Xứ lăn ra ngủ và không tỉnh dậy trong 2 ngày 2 đêm.

Những lời bàn tán nhanh chóng lan đi trong làng rằng Chu Xứ đã giết được các quái vật và chết sau khi kiệt sức. Họ ăn mừng linh đình trong ba ngày ba đêm, và cuối buổi lễ tất cả đều hát hân hoan, “Ba con quái vật đã chết, ba con quái vật đã chết. Hoan hô, hoan hô, hoan hô!”. Khi dân làng đang ca hát, Chu Xứ trở về nhà. Chỉ khi đó, anh mới nhận ra rằng những người trong làng xem anh như con quái vật thứ ba.

Chu Xứ cảm thấy xấu hổ vô cùng và nguyện sẽ cải tà quy chính. Anh muốn thay đổi và trở thành một người tử tế. Anh nhờ một người thầy giỏi là Lục Vân dạy anh, và sau đó, Chu Xứ hiến dâng cả đời để học tập. Cuối cùng anh đã trở thành một vị quan có vị trí cao và phục vụ mọi người một cách trung thành.

Viết phản ánh

1. Nếu bạn là Chu Xứ, bạn sẽ cảm thấy thế nào khi nhận ra rằng người trong làng mình nghĩ rằng mình là một quái vật?

2. Chu Xứ đã tiêu trừ con quái vật thứ ba ở trong chính mình như thế nào?

3. Bạn nên phản ứng thế nào khi người khác phê bình bạn?

(Theo Chanhkien.org)

Đọc bản gốc tiếng Anh tại đây.

  • Share/Bookmark
Chuyên mục: Văn hóa
;

Bình luận trên facebook

Có 1 lời bình
Bình luận
Lời bình của bạn
Mã xác nhận trong hình vẽ dưới đây là gì?