David Matas: Lại bàn về nhân quyền

David Matas. (Woody Wu/AFP/Getty Images)

Những lời bình luận dưới đây được phát biểu bởi luật sư nhân quyền David Matas khi ông nhận Giải thưởng Ưu tú Negev năm 2010 của trường Đại học Ben-Gurion trong một buổi tiệc chúc mừng tại khách sạn  Fairmount ở Winnipeg vào ngày 26 tháng 8.

Tất cả ông bà của tôi đều đến Winnipeg trước Chiến tranh Thế giới I. Ông nội tôi, Simon, đến từ một thị trấn gần Odessa vào năm 1990. Bà nội tôi, Anna, đến từ Odessa cũng vào năm 1990. Rose, bà ngoại tôi, từ Piatra Neamt, Ru-ma-ni đến Omaha, Nebraska vào năm 1904. Ông ngoại tôi, Max, đến từ Dvinsk mà bây giờ thuộc Latvia, vào năm 1905. Bố mẹ tôi đều sinh ra ở Winnipeg và tôi cũng vậy, vào tháng này, tháng 8 năm 1943.

Vào tháng 8 năm 1943, cuộc thảm sát người Do Thái – Holocaust, đã thực hiện được khoảng 2/3. Khoảng 4,5 triệu người Do Thái đã bị tàn sát. Khoảng 1,5 triệu người Do Thái nữa cũng sẽ bị tàn sát.

Vào tháng tôi sinh ra, các tù nhân Do Thái trong trại tập trung Treblinka đã cố gắng chiếm quyền kiểm soát trại. Nỗ lực thất bại và các tù nhân chạy trốn để giữ mạng sống. Hầu hết đã bị lính canh trại ở trên tháp canh bắn chết hoặc là bị bắt lại và giết chết.

Sau khi Đức Quốc xã xâm lược Nga, tất cả các thị trấn gần Odessa, bao gồm cả thị trấn nơi ông tôi, Simon, sống trước khi đến đây cũng đã bị tàn phá. Thành phố Odessa, nơi bà tôi, Anna sống trước khi di cư, ước tính có khoảng 180.000 người Do Thái trước Chiến tranh Thế giới II. Khi chiến tranh kết thúc thì không còn một ai. Tất cả người Do Thái đã chạy trốn, bị giết chết hoặc bị trục xuất.

Piatra Neamt ở Ru-ma-ni, quê cũ của bà tôi, Rose, có số dân Do Thái trước Chiến tranh Thế giới II vào khoảng 8.000 người. Họ sống sót qua chiến tranh, nhưng đã phải chịu đựng tra tấn, tống tiền, tịch thu tài sản, bắt ép tẩy chay hàng hóa Do Thái, bị bắt đeo sao vàng, bị trục xuất, và lao động nô lệ. Sau chiến tranh, hầu như tất cả người Do Thái đã rời bỏ nơi này. Ngày nay chỉ còn lại vài trăm người.

Dân số Do Thái ở Dvinsk, quê hương của ông tôi, Max, trước Chiến tranh Thế giới II, có khoảng 45.000 người. Người Do Thái ở Dvinsk đã bị bắn và giết chết bởi những đội giết người lưu động của bọn Quốc xã,  Einsatzgruppen, và cảnh sát bổ trợ Latvia, và bị chôn trong những hố chôn người tập thể. Khi Quân đội Xô-viết tiến vào Latvia năm 1944, chỉ còn vài trăm người Do Thái trên cả nước.

Chủ nghĩa bài Do Thái (antisemitism) mà dẫn đến Holocaust có hình thức tàn bạo nhất ở Châu Âu, nhưng nó đã có những người ủng hộ và thực hành ở khắp nơi. Trong những năm thơ ấu của tôi ở Winnipeg, trường Đại học Manitoba đặt giới hạn cho số lượng sinh viên Do Thái được nhận vào trường y. Người Do Thái không thể mua nhà ở khu dân cư Tuxedo. Người Do Thái cũng không thể tham gia Câu lạc bộ Manitoba hay Câu lạc bộ St. Charles Golf and Country. Bãi biển Victoria cũng cấm người Do Thái không được lui tới. Tất cả các hãng luật lớn ở Winnipeg đều không có người Do Thái.

Khi tôi lớn lên, đám sương mù của Holocaust cũng tan đi. Sự phân biệt đối xử đối với người Do Thái cũng tan biến. Những người cùng thời với tôi cũng bác bỏ sự cố chấp của cha mẹ họ.

Nhưng tôi biết rằng, nếu như không có những sự thay đổi thất thường của chiến tranh, nếu như không có thực tế rằng quân Đồng minh chứ không phải các thế lực phát-xít {Đức, Ý và Nhật} đã chiến thắng, thì không có người Do Thái nào bao gồm cả tôi còn sống đến ngày hôm nay. Từ khi 8 tuổi, tôi đã biết rằng tôi muốn làm ‘điều gì đó’ về Holocaust. Năm tháng qua đi, tôi đã thấy rõ rằng ‘điều gì đó’ ấy chính là cố gắng học các bài học từ Holocaust và có những hành động từ những bài học đó.

Những bài học tôi rút ra được từ Holocaust là sự cần thiết phải đưa những kẻ giết người hàng loạt ra trước công lý; phải cấm những tiếng nói thù ghét; phải bảo vệ những người tị nạn; và không bao giờ im lặng chấp nhận những vi phạm nhân quyền trắng trợn, dù chúng xảy ra ở bất cứ nơi nào. Tôi đã tham gia vào công việc nhân quyền để có hành động từ những bài học này, để tham gia cuộc đấu tranh về nhân quyền trên cả bốn mặt trận liên quan đến nhau. Khi chiến đấu trên bốn mặt trận này, tôi đã phải chống lại bốn kẻ thù khác nhau đang rình rập trên khắp chiến trường nhân quyền.

Những bài học tôi rút ra được từ Holocaust là sự cần thiết phải đưa những kẻ giết người hàng loạt ra trước công lý; phải cấm những tiếng nói thù ghét; phải bảo vệ những người tị nạn; và không bao giờ im lặng chấp nhận những vi phạm nhân quyền trắng trợn, dù chúng xảy ra ở bất cứ nơi nào.

Bốn kỵ sĩ của một đại họa do chính con người gây ra là: Thờ ơ, Độc tài, Đạo đức giả, và Bất lực. ‘Thờ ơ’ đã luôn là kẻ thù chính trong việc đưa những tên tội phạm chiến tranh Quốc xã ở Canada ra trước công lý. Khi chính bản thân người ta là những nạn nhân hoặc có khả năng là nạn nhân của những vi phạm nhân quyền, sẽ rất dễ nảy sinh sự quan tâm. Ở những nơi mà nạn nhân là những người khác, đáng tiếc là có quá nhiều người không làm gì cả.

Cuộc đấu tranh để có các bộ luật hữu hiệu chống lại những tiếng nói thù ghét đã khiến tôi chiến đấu với ‘Độc tài’ – niềm tin rằng nhân quyền, quyền được tự do bày tỏ, vượt lên trên tất cả những thứ khác.  Trong số tất cả các bài học tôi học được từ Holocaust, không gì quan trọng hơn là sự cần thiết phải cấm những tiếng nói thù ghét, bởi vì việc cấm những tiếng nói thù ghét, nếu hữu hiệu, sẽ ngăn chặn sự tàn bạo xảy ra.

‘Đạo đức giả’, sự chấp nhận những giá trị nhân quyền trên nguyên tắc và các vi phạm trên thực tế, được minh họa rõ ràng trong vấn đề người tị nạn. Các nhà nước nhận bảo vệ người tị nạn trên nguyên tắc. Tuy nhiên, sự đa dạng của các kỹ xảo, bao gồm phạm vi áp dụng hẹp của định nghĩa về người tị nạn, từ chối sự công bằng trong các thủ tục xác định người tị nạn, đối xử hà khắc với những người đang chờ quyết định, thổi phồng thái độ hoài nghi, và sự cấm chỉ, tất cả đều có nghĩa là một cam kết bảo vệ người tị nạn trên nguyên tắc thường đi kèm theo sự từ chối bảo vệ người tị nạn trên thực tế.

Kẻ thù nhân quyền thứ tư của tôi là ‘Bất lực’, cảm thấy rằng những vi phạm nhân quyền là quá rộng lớn đến mức mà chúng ta không thể làm được gì về việc này. Thế nhưng, trừ khi mỗi cá nhân đề cao sự tôn trọng nhân quyền, những quyền này chắc chắn sẽ bị tàn lụi.

Gần đây, tôi đã dành rất nhiều thời gian để đấu tranh với cuộc đàn áp Pháp Luân Công. Tối nay tôi sẽ bay đến Melbourne, Australia, để phát biểu tại một Hội nghị của Liên Hợp Quốc vào tuần tới về chủ đề này.

>> David Matas: Những bài học từ Holocaust, nạn mổ cắp nội tạng ở Trung Quốc

Pháp Luân Công là một bộ các bài tập đơn giản với một nền tảng tinh thần, đã bắt đầu ở Trung Quốc vào năm 1992 và bị cấm vào năm 1999. Ngài David Kilgour và tôi đã kết luận (đầu tiên là trong một bản báo cáo được công bố vào tháng 7 năm 2006 và cập nhật vào tháng 1 năm 2007, sau đó là trong một cuốn sách có tên ‘Thu hoạch Đẫm máu’ (Bloody Harvest) xuất bản vào tháng 11 năm 2009), rằng hàng chục ngàn học viên Pháp Luân Công ở Trung Quốc đã bị giết chết để nội tạng của họ được đem bán cho những bệnh nhân cần ghép tạng.

Một lý do khiến tôi tích cực đấu tranh với sự vi phạm nhân quyền đối với các học viên Pháp Luân Công, đó là tôi không phải là người Trung Quốc, cũng không tập Pháp Luân Công. Tôi có thể nói một điều tương tự về việc tôi tham gia cùng tổ chức Beyond Borders (Xuyên biên giới) để đấu tranh chống lại nạn lạm dụng tình dục trẻ em quốc tế. Trẻ em không thể đấu tranh trước những lạm dụng đối với mình. Chính người lớn phải lên tiếng nói thay chúng. Đứng lên bảo vệ nhân quyền có nghĩa là phá vỡ mọi rào cản về ngôn ngữ, văn hóa, địa lý, tôn giáo, giới tính và tuổi tác để khẳng định những quyền của con người chung cho tất cả chúng ta.

Những bài học mà tôi đã rút ra được từ Holocaust là, tôi suy nghĩ một cách ngây thơ, có giá trị đối với những người khác nhiều hơn là đối với cộng đồng người Do Thái, những người mà tôi tin rằng đã phải chịu mọi nỗi khổ có thể có.  Tôi đã rất kinh ngạc và kinh sợ khi chứng kiến trong những năm gần đây sự gia tăng của những đợt tấn công nhằm vào những người Do Thái trên toàn thế giới.

Tư tưởng bài Do Thái đã thay đổi. Nó đã thêm vào một yếu tố mới và mạnh mẽ, coi người Do Thái như những con người phạm tội vì điều mà người ta cho là sự ủng hộ của họ đối với sự phạm tội hoang đường của nhà nước Do Thái.

Cuộc đấu tranh để có các bộ luật hữu hiệu chống lại những tiếng nói thù ghét đã khiến tôi chiến đấu với ‘Độc tài’ – niềm tin rằng nhân quyền, quyền được tự do bày tỏ, vượt lên trên tất cả những thứ khác.

Sự căm thù người Do Thái luôn biến cộng đồng Do Thái thành những nạn nhân. Nhưng trước Chiến tranh Thế giới II, những người không phải người Do Thái hầu như không bị động tới.

Với Quốc xã, điều đó đã thay đổi rất nhiều.  Tư tưởng bài trừ và hủy diệt người Do Thái của Đức Quốc xã, sự quyết tâm của chế độ Quốc xã nhằm giết chết người Do Thái ở khắp mọi nơi, đã thúc đẩy, duy trì và kéo dài Thế chiến II.

Thế chiến II là một tổn thất không thể nói nên lời đối với cộng đồng Do Thái.  Nhưng chiến tranh cũng là một thảm họa và một bi kịch cho toàn bộ hành tinh.  Tổng số thương vong trong Thế chiến II là 62 triệu người – 25 triệu quân nhân và 37 triệu dân thường.  31 triệu dân thường không phải là người Do Thái đã chết trong cuộc chiến đó.  Sự thù hận người Do Thái đã kéo cả thế giới xuống.

Sau chiến tranh, tổn hại vẫn tiếp tục.  Quân đồng minh, với động cơ là muốn đưa và giữ Tây Đức trong cuộc chiến tranh lạnh, đã giải thể Tòa án Nuremberg năm 1948 rất sớm trước khi công việc của tòa án này hoàn thành.

Để quyền miễn truy tố đối với những tên Quốc xã có hiệu lực, thì nó phải toàn diện.  Sự miễn trừ đó đã trở nên một giấy phép cho hết cuộc diệt chủng này đến cuộc diệt chủng khác.  Có một mối liên hệ trực tiếp giữa sự miễn tố dành cho những kẻ Quốc xã giết người hàng loạt sau Thế chiến II và một loạt dường như vô tận những tội ác sau thế chiến chống lại loài người ở Rwanda, Campuchia, Bosnia, Sudan và những nơi khác.

Chủ nghĩa chống nhà nước Do Thái (Anti-Zionism), khuôn mặt hiện đại của chủ nghĩa bài Do Thái (antisemitism), thù hận nhà nước Do Thái, bác bỏ người Do Thái như là một dân tộc có quyền tự quyết, đưa ra một động lực tương tự cho antisemitism của thế kỷ trước.  Anti-Zionism đã đổ dầu vào lửa cho chủ nghĩa khủng bố toàn cầu.  Thuốc độc đang lan rộng của chế độ hiện nay ở Iran, mà Irwin Cotler đã rất vất vả để đấu tranh chống lại, có liên quan chặt chẽ với Anti-Zionism.

Anti-Zionism đã phá bỏ Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc.  Ủy ban này đã trở thành một Ủy ban đánh Israel một cách quá rõ ràng đến nỗi việc tiếp tục tồn tại của ủy ban là không thể duy trì được.  Cơ quan thay thế của ủy ban này, Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc, hiện cũng đang trải qua một quá trình tự hủy diệt như vậy.

Những kẻ vi phạm nhân quyền trốn tránh trách nhiệm bằng cách đánh lạc hướng sự chú ý khỏi những vi phạm của chúng sang Israel.  Anti-Zionism đã cộng thêm vào những đau khổ của các nạn nhân của sự vi phạm nhân quyền ở khắp mọi nơi.

Những cộng đồng nạn nhân đã phản ứng lại sự tàn bạo của Thế chiến II bằng cách đưa ra những chuẩn mực, tổ chức và thể chế nhân quyền quốc tế.  Tuy nhiên, không chỉ là những nạn nhân phải thích ứng.

Những kẻ thủ phạm cũng thích ứng.  Những kẻ thủ phạm đã nhào nặn những từ vựng về nhân quyền và tụ lại để chia rẽ những tổ chức và thể chế nhân quyền, chiếm làm của riêng chúng.

Liệu nhân quyền có phải chỉ là cái gì đó tạm thời và hiện nay đang bị quá tải trong cuộc đấu tranh giữa những kẻ thủ phạm và các nạn nhân hay không?  Tôi muốn nghĩ rằng không phải như vậy.

Những chuẩn mực, tổ chức và thể chế nhân quyền là một di sản của Holocaust.  Chúng ta nhờ di sản đó mà làm những gì chúng ta có thể để khiến hệ thống nhân quyền hoạt động.

Đấu tranh với những vi phạm nhân quyền trắng trợn ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác là một nhiệm vụ rất nặng nề.  Một giải thưởng như thế này, sự tham dự của quý vị, sự đánh giá cao mà những điều này nói lên, đã động viên tôi tiếp tục nỗ lực đó.  Xin cảm ơn quý vị.

Bất chấp tất cả mọi thứ, chúng tôi, những cộng đồng nạn nhân, vẫn ở đây.  Chúng tôi sống; chúng tôi tưởng nhớ; chúng tôi nói rằng, không bao giờ để những điều đó lặp lại nữa.

David Matas là một luật sư nhân quyền quốc tế sống ở Winnipeg, Manitoba, Canada.

David Matas
(Theo The Epoch Times)

Bản tiếng Anh có tại đây.

  • Share/Bookmark
Chuyên mục: Nhân quyền
;

Bình luận trên facebook

Bình luận
Lời bình của bạn
Mã xác nhận trong hình vẽ dưới đây là gì?