Thưởng thức tinh hoa của vũ cổ điển Trung Quốc

Michelle Ren biểu diễn trong Cuộc thi Quốc tế Vũ đạo Cổ điển Trung Quốc. (Ji Yuan/The Epoch Times)

Vào năm Cảnh Long thứ ba triều đại nhà Đường (tức năm 618 – 907 Tr.CN), nhằm ngày 30 tháng Giêng năm ấy, Hoàng đế Đường Trung Tông mở đại yến tiệc tại Côn Minh, văn võ quần thần ai nấy đều hoan hỉ. Hoàng đế Trung Tông bèn lệnh cho bá quan cùng các văn sĩ mỗi người làm một bài thơ để ghi lại sự kiện trọng đại này, bài thơ hay nhất sẽ được dâng lên vua để Ngài ngự lãm.

Đường Trung Tông ngự tại một ngôi lầu lộng lẫy, lại mời cả mỹ nhân có tài văn chương lẫy lừng thiên hạ là Thượng Quan Uyển Nhi cùng đến thượng lầu bình thơ. Bấy giờ có hai đại thi hào văn tài lỗi lạc, không thể so sánh. Một vị tên gọi là Trầm Thuyên Kì. Còn vị kia là Tống Chi Vấn.

Thượng Quan Uyển Nhi đầu đội mũ phượng, mình khoác áo thêu, tư trang thướt tha kiều diễm. Nàng ngồi trên thượng lầu, tay áo thướt tha buông xuống. Quần thần lần lượt dâng thơ. Uyển Nhi đọc một vài dòng rồi đề lời bình trên đó. Những bài thơ không đạt yêu cầu của nàng đều bị ném xuống dưới lầu.

Quần thần ai nấy đều hướng lên thượng lầu. Mỗi khi một mảnh giấy rơi xuống là họ lại nhặt lên xem đó là của tác giả nào. Thế nhưng Trầm Thuyên Kỳ và Tống Chi Vấn chỉ đứng yên, không nhặt lên mảnh giấy nào, vì vị nào cũng tin rằng tác phẩm của mình là hay nhất. Trầm Thuyên Kỳ hướng vào Tống Chi Vấn bảo rằng: “Ta và ngài xưa nay vẫn không thể phân cao thấp. Lần này, nếu ai thắng thì đó chính là người tài cao hơn vậy. Từ nay về sau không cần phải đua tranh hơn kém nữa”. Tống Chi Vấn chỉ mỉm cười đồng ý.

Một lát sau, Uyển Nhi lại ném xuống một bài thơ khác. Đó là tác phẩm của Trầm Thuyên Kỳ. Nàng đề lời bình phía dưới bài thơ: “Thơ của hai vị Trầm tiên sinh và Tống tiên sinh quả là khó phân cao thấp. Song, hai câu kết của Trầm tiên sinh khí thế dường như cạn kiệt. Còn tác phẩm của Tống tiên sinh thì thi tứ dồi dào, tươi mới, tựa như đàn chim tung cánh giữa trời. Vì thế nên ta chọn bài thơ của Tống tiên sinh”.

Quần thần cùng đọc lại hai bài thơ ấy. Cả hai bút tích đều tuyệt diệu, ngôn từ thanh tú, văn phong trang nhã. Tuy nhiên, bài thơ của Trầm Thuyên Kỳ kết thúc bằng hai câu: “Vi thần điêu hủ chất, tu đổ dự chương tài” (Tạm dịch: Kẻ hạ thần vô dụng. Nghĩ thẹn trước văn này). Trong khi ấy, Tống Chi Vấn khép lại bài thơ của mình bằng hai câu: “Bất sầu minh nguyệt tẫn, tự hữu dạ châu lai” (Tạm dịch: Sầu chi khi ánh trăng tan? Màn đêm đang đợi nở hòn minh châu). Ai nấy đều bội phục Uyển Nhi lựa chọn công bình.

Văn hóa Trung Quốc tập trung đi sâu vào ý cảnh. Thư pháp, hội họa, vi kì, âm nhạc, thi ca, võ thuật, vũ đạo, tất cả đều thấm đẫm tư tưởng này. Thơ của Trầm Thuyên Kỳ tự ví mình như là “điêu hủ” (vô dụng), ý cảnh bài thơ tự nhiên thành suy bại. Trái lại, Tống Chi Vấn với tâm hồn trong sáng, tràn đầy hy vọng lại đưa vào thơ của mình hình ảnh viên ngọc của màn đêm khi ánh trăng đã tàn. Nó cho thấy tài năng tuyệt vời của ông khi mang đến những tứ thơ mới lạ và nội hàm sâu sắc.

Cuộc thi Quốc tế Vũ đạo cổ điển Trung Quốc của Đài Truyền hình Tân Đường Nhân (NTDTV) được tổ chức hồi đầu tháng này quy tụ rất nhiều nghệ sĩ tài năng với kỹ thuật nổi bật. Nhưng nếu nói về nội hàm ý nghĩa trong các động tác vũ đạo thì Nhậm Phượng Vũ (Michelle Ren) khẳng định là người xuất sắc nhất.

Vũ đạo của Nhậm Phượng Vũ dựa trên ý tưởng về một đóa hoa sen thanh tịnh trong ao Phật. Y phục của cô đều là màu trắng, tượng trưng cho sự thiêng liêng và thuần khiết của hoa sen. Màn biểu diễn tuyệt diệu của cô Nhậm không chỉ thể hiện được cảnh giới thanh cao, tinh khiết của hoa sen, mà còn khiến người xem liên tưởng đến thế giới trang nghiêm và thần thánh của các vị Phật. Gió nhẹ vi vu, hoa sen lay động, hương thơm phảng phất, tiên nhạc du dương, khiến cho lòng người thanh tịnh mà khởi tâm kính trọng. Với chủ đề đặc biệt này, Nhậm Phượng Vũ thực sự đã vượt lên trên tất cả những nghệ sĩ khác.

Màn trình diễn hoàn mỹ của cô thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về chủ đề cô đã chọn. Các động tác mềm mại, uyển chuyển, nhưng mỗi sắc thái lại đều rõ ràng và mới mẻ. Động tác nhẹ nhàng nhưng dứt khoát, nhu trong cương, kết hợp nhịp nhàng. Mỗi bước đi, mỗi chuyển động đều hết sức tự nhiên và mềm mại. Đôi chân có thể duỗi căng thẳng vững chắc (Bạn có thể xem động tác này tại đây) và rồi đột nhiên thực hiện một động tác xoay người với hai tay chống trên mặt đất.

Động tác này khiến cho người xem thấy bất ngờ nhưng cũng vô cùng hứng thú. Khi cô biểu diễn, mặc dù các động tác dường như mạnh mẽ nhưng chúng vẫn khiến người xem cảm thấy bình an. Nét mặt của cô an hòa và chân thật, như thể cô đang ở đâu đó không phải trong cuộc thi, cũng không phải để làm hài lòng giám khảo, mà chỉ là đang thể hiện hiểu biết của mình về những đóa hoa sen thông qua những kỹ thuật điêu luyện.

Ngay cả sau khi cô kết thúc màn biểu diễn, dư vị của nó, tất cả năng lượng và cảm xúc như vẫn còn lưu lại trong không gian. Linh hồn của vũ đạo thực sự đã vượt qua cả hình thái nghệ thuật.

Bên cạnh những ý nghĩa bên ngoài, văn hóa Trung Quốc cũng đặt nặng về tính hàm súc. Tương truyền Hán Cao Tổ ban đầu không tin dùng Hàn Tín vào việc cầm quân. Hoàng đế cấp cho Hàn Tín một miếng vải nhỏ và bảo ông vẽ lên đó bao nhiêu binh lính tùy thích, vẽ được nhiều bao nhiêu thì được chỉ huy bấy nhiêu. Thay vì vẽ binh lính, Hàn Tín bèn vẽ lên đó một con ngựa đang chạy, nửa phần lưng ngựa khuất sau một bức tường, chỉ một phần là trông thấy được. Người ta nhìn thấy người ngồi trên lưng ngựa tay cầm một lá cờ ám chỉ thiên quân vạn mã, ngay cả người ngồi trên lưng ngựa cũng không thấy rõ hết. Mặc dù Hàn Tín không vẽ một người hoàn chỉnh, nhưng lá cờ nói lên rằng phía sau người cầm quân kia có cả nghìn vạn binh lính, ngựa xe.

Hoàng đế Huy Tông, thời nhà Tống có lần tổ chức một cuộc thi cho Hoàng gia Họa viện. Đề bài là “thâm sơn tàng cổ tự”, một ngôi chùa cổ nằm khuất sâu trong hẻm núi. Giải nhất thuộc về một bức tranh vẽ cảnh núi non trùng điệp, dưới chân núi một tăng nhân đang lấy nước trong khe. Dù người họa sĩ chẳng hề vẽ ngôi chùa cổ nào, nhưng ai ai cũng nói rằng ngôi chùa chắc hẳn là nằm sâu trong hẻm núi.

Nguyên lý tương tự cũng được áp dụng cho vũ cổ điển Trung Quốc. Nếu các động tác quá giống với võ thuật, múa ba-lê hay thể dục, nếu chúng quá cứng nhắc hoặc quá mềm yếu, hoặc giả như sự chuyển đổi giữa trạng thái trầm tĩnh và dữ dội quá rõ ràng, thì màn biểu diễn ấy sẽ thiếu đi tính hàm súc cần thiết.

Văn hóa Trung Quốc luôn bao hàm nhiều lĩnh vực. Khi một người sáng tạo nên một nhân vật, hay thậm chí tạo ra một chuyển động, thì người khác cũng có thể thấy được mọi thông tin quan trọng về người ấy. Điều này thậm chí còn thật hơn trong loại hình nghệ thuật cổ điển như vũ đạo. Một vũ công sẽ không thể phát triển nếu cô ta chỉ có thể cải thiện kỹ thuật của mình mà thiếu sự hiểu biết về nền văn hóa Trung Quốc. Nếu một vũ công thiếu sự tu dưỡng và hiểu biết về bản thân, cô ta sẽ không thể khắc họa thành công các nhân vật trên Thiên giới hoặc các diễn đạt được các phẩm chất đạo đức cao, chẳng hạn như lòng trung thành và sự trong trắng.

Mặc dù các kỹ thuật vũ đạo rất quan trọng, sự thăng tiến trong đạo đức của một người mới thực sự là thứ giao hòa với bản tính tự nhiên tốt đẹp của nhiều người trong khán giả. Hành trình rèn luyện nâng cao đạo đức là không ngừng. Đạo Giáo tin rằng “ai ai cũng có thể trở thành vị hoàng đế anh minh”, còn Đạo Phật thì tin rằng con người ta ai cũng có thể tu luyện thành Phật. Điều này có nghĩa là mọi người đều có tiềm năng để giác ngộ, cũng như mọi vũ công đều có thể đạt tới cảnh giới cao. Tuy nhiên, đó là cả một quá trình tu dưỡng gian khổ. Nó cũng giống như quá trình mà đã hình thành nên tinh hoa của Khổng giáo, Phật giáo, Đạo giáo, và nền tảng của 5.000 năm văn hóa của đất nước Trung Quốc.

Quá trình này là cả một con đường dài bất tận, một con đường chỉ dành cho những nghệ sĩ khát khao tìm kiếm những cảnh giới cao nhất trong vũ cổ điển Trung Hoa.

Chương Thiên Lượng
(Bài đặc biệt cho Thời báo Đại Kỷ Nguyên)

Bản tiếng Anh có tại đây.

  • Share/Bookmark
Chuyên mục: Nghệ thuật
;

Bình luận trên facebook

Bình luận
Lời bình của bạn
Mã xác nhận trong hình vẽ dưới đây là gì?